ĐÒI THÀNH CÔNG ĐẤT ĐAI CHO THÂN CHỦ
Khoảng năm 1991, bà Võ Thị Kim Đ và các con là ông (bà) Lê Hữu T1, Lê Hữu T3, Lê Hữu T2, Lê Thị Ngọc D và Lê Thị Ngọc T4 có thoả thuận bán cho ông Liên Phương V căn nhà mái ngói, vách tường, nền xi măng trên diện tích đất 846m² toạ lạc tại 117/1 ấp H, xã T, huyện H với giá 17 lượng vàng 24K, đã giao 16,5 lượng, số còn lại sẽ giao khi hoàn tất thủ tục, việc mua bán lập bằng giấy tay, gia đình bà Đ đã giao nhà đất cho ông V sử dụng. Vào năm 1994, khi bà Đ chấp hành án hình sự tại trại giam Z, bà Đ đã ký giấy uỷ quyền cho các con làm thủ tục bán nhà cho ông V, tuy nhiên các bên chưa hoàn tất việc mua bán.
Năm 1995, Phòng Thi hành án Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh) đã kê biên nhà đất trong khuôn viên 1.200m² (bao gồm cả nhà và đất mà ông V và gia đình bà Đ đã thoả thuận mua bán) để thi hành án. Do ông V là người đang quản lý, sử dụng nhà đất bị kê biên nên ông V đã đăng ký tham gia đấu giá và trúng đấu giá. Phần đất 1.200m² mà ông V nhận được qua phát mãi được thể hiện tại Bản đồ hiện trạng vị trí số 48572/TTDDBD-VPQ12 ngày 11/3/2019 do Trung tâm Đo đạc bản đồ – Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập. Hiện nay, trên đất có các căn nhà ký hiệu (9), (15), (16), (17), (18), (19) đã được Ủy thì nhân dân Quận A4 cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở nên ông V sẽ khởi kiện sau.
Ông V đã thực hiện nghĩa vụ của người trúng đấu giá là nộp 20.2 lượng vàng loại 99,99%, Phòng Thi hành án Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành các biên bản giải quyết thi hành án và lập biên bản giao nhà, đất cho ông V sử dụng.
Do ông V không thường xuyên sinh sống sống trên đất nên từ năm 1996 đến năm 2004, gia đình bà Đ phá rào, chiếm nhà đất của ông V, ông V đã nhiều lần gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân phường nhờ can thiệp.
Ông V được biết, sau khi bà Đ chấp hành xong án phạt tù, bà Đ và các con của bà đã bán 1.200m² đất mà ông V đã mua đấu giá cho một số người. Những người này đã xây dựng nhà trên đất. Do vậy, ông khởi kiện yêu cầu bà Đ và những người đang quản lý, sử dụng đất phải giao trả đất cho ông.
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết.
1./ Tuyên ông Liên Phương V được quyền sử dụng khuôn viên đất diện tích 936.9m² thể hiện tại Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 48572/TTDDBD-VPQ12 ngày 11/3/2019 do Trung tâm Đo đạc bản đồ – Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập.
2./ Buộc những người đang sử dụng đất tháo dỡ toàn bộ công trình, giao trả đất trống cho nguyên đơn, bao gồm:
– Ông Lê Xuân N, phần đất ký hiệu (1) diện tích 102m²;
– Bà Vũ Thị T6, phần đất ký hiệu (2), diện tích 63,7m²;
– Bà Lê Thị P, phần đất ký hiệu (3), diện tích 62m²;
– Bà Nguyễn Thị H, phần đất ký hiệu (4), diện tích 60,5m²;
– Bà Phạm Thị N3, phần đất ký hiệu (5), diện tích 61,7m²;
– Ông Nguyễn Hữu N5, phần đất ký hiệu (6), diện tích 61,2m²;
– Ông Nguyễn Thanh L2, phần đất ký hiệu (7), diện tích 84,2m²;
– Ông Lê Hữu T3, phần đất ký hiệu (8), diện tích 18,1m²;
– Bà Lê Thị Thu T12, phần đất ký hiệu (11), diện tích 27,7m²;
– Bà Đỗ Thị Thu S1, phần đất ký hiệu (12), diện tích 29,9m²;
– Bà Nguyễn Thị Thu T15, phần đất ký hiệu (13), diện tích 112,3m²;
– Bà Dương Thị L5, phần đất ký hiệu (14), diện tích 96,2m²;
– Hẻm xi măng, phần đất ký hiệu (20), diện tích 126m².
Vai trò của Luật sư công ty Luật Hồng Đức Việt: Chứng minh được nguồn gốc mảnh đất và việc mua đất của ông V (trực tiếp từ gia đình ba Đ và qua đấu giá) là hợp pháp, từ đó Tòa án đã yêu cầu gia đình bà Đ và những cá nhân chiếm giữ đất của ông V phải giao trả đất cho ông V.
