QUY ĐỊNH VỀ THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT GIỮA CÁ NHÂN VỚI CÁ NHÂN
Căn cứ Điều 35 Nghị định 21/2021/NĐ-CP quy định việc nhận thế chấp của cá nhân không phải là tổ chức tín dụng đối với quyền sử dụng đất của cá nhân sử dụng đất phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
- Bên nhận thế chấp nếu là cá nhân thì phải là công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
- Việc nhận thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ không vi phạm điều cấm của Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan, không trái đạo đức xã hội trong quan hệ hợp đồng về dự án đầu tư, xây dựng, thuê, thuê khoán, dịch vụ, giao dịch khác;
- Trường hợp nghĩa vụ được bảo đảm bao gồm trả tiền lãi thì lãi suất phát sinh do chậm trả tiền, lãi trên nợ gốc trong hạn, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi chưa trả hoặc lãi, lãi suất khác áp dụng không được vượt quá giới hạn thỏa thuận về lãi, lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, khoản 5 Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015. Trường hợp có thỏa thuận về việc xử lý đối với hành vi không trả nợ đúng hạn của bên có nghĩa vụ và không có quy định khác của pháp luật thì chỉ xử lý một lần đối với mỗi hành vi không trả nợ đúng hạn;
Như vậy, cá nhân có quyền nhận thế chấp quyền sử dụng đất từ cá nhân khác với các điều kiện nhất định.
Cá nhân nhận thế chấp quyền sử dụng đất từ cá nhân khác có cần đăng ký biện pháp bảo đảm không?
Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 99/2022/NĐ-CP đăng ký biện pháp bảo đảm là việc cơ quan có thẩm quyền ghi nhận, cập nhật thông tin vào Sổ đăng ký hoặc Cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm về việc tài sản được dùng làm bảo đảm cho nghĩa vụ của bên bảo đảm, người bảo đảm hoặc cả hai đối với nghĩa vụ của mình và người khác.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 25 Nghị định 99/2022/NĐ-CP nếu cá nhân nhận thế chấp quyền sử dụng đất từ cá nhân khác thì việc đăng ký biện pháp bảo đảm là bắt buộc.
Như vậy, bắt buộc phải đăng ký giao dịch bảo đảm.
